MỖI NGÀY MỘT LÁ CÂY - PINUS MASSONIANA LAMB. (THÔNG)
THÔNG (Phấn hoa) 松 Sōng
Tên khoa học:
- Thông đuôi ngựa: Pinus massoniana Lamb. - họ Thông Pinaceae).
- Thông hai lá: Pinus merkussi Jungh. et De Vriese, họ Thông.
Tên khác: Mã vĩ tùng 马尾松 Mǎwěi sōng (Trung Quốc) - 松 (まつ - Matsu) - 松の木 (まつのき - Matsu no ki) (Nhật Bản) - Riêng đối với loài Mã vĩ tùng 马尾松 Mǎwěi sōng (Thông đuôi ngựa) , trong tiếng Nhật loài này được gọi theo tên khoa học hoặc tên Hán tự tương ứng là 馬尾松 (phiên âm: Babisō). Tuy nhiên, tại Nhật Bản, loài thông phổ biến và đặc trưng hơn là Thông đen (Kuro-matsu) và Thông đỏ (Aka-matsu) - 소나무 Sonamu (Hàn Quốc) - Pin (Pháp) - Pine (Anh) - Pine Pollen (Anh).


Bộ phận dùng: Phấn hoa đã chế biến khô của nhiều cây họ thông (Pollen Pini). Còn gọi là Tùng hoa phấn 松花粉 Sōng huāfěn.
Đã được ghi vào DĐTQ (1997).
Mô tả: - Thông đuôi ngựa: Cây thân gỗ, thẳng, thon, cao tới trên 30m, to đường kính có thể tới hơn 70cm. Cành, nhánh nhỏ, mảnh, phần cuối các nhánh, các chùm lá cong uốn lên như đuôi ngựa. Lá cũng mảnh mềm, dài 15-20cm, thường buông xuống, màu lục vàng, xếp từng đôi một, gốc có bẹ lá dài độ 1cm. Trái dạng nón, hình trứng, rỗng do các vẩy dẹt tạo nên. Hạt hình trái xoan dẹt, có cánh mỏng ở đỉnh dài độ 1,5cm.
Mùa bông: tháng 4.
Mùa trái: tháng 11-12.
Thông đuôi ngựa được trồng nhiều ở miền Bắc nước ta: Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An. Miền Nam Trung Quốc có nhiều.
- Thông hai lá: (Còn gọi thông ngựa). Cây thân gỗ, cao tới hơn 30m, thân có những rãnh nứt khá sâu. Cành lá rậm, tươi tốt. Lá màu lục, cứng dài 15-25cm, xếp từng đôi một, gốc có bẹ lá dài 1-2cm.
Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi khắp nước ta từ Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Nghệ An, Đắk Lắk (Darlac) , Lâm Đồng, Đồng Nai,...v.v
Thu hái chế biến: Thu hoạch về mùa xuân khi cây mới ra bông, hứng, thu gom và phơi sấy khô.
Thành phần hóa học: Sơ bộ thấy trong phấn hoa thông có chất đạm.
Công dụng:
- Phấn hoa thông: vị ngọt, tính ấm có tác dụng bồi dưỡng cơ thể, tăng sức lực, trừ phong thấp.
Phấn hoa thông có tác dụng cầm máu, hút khô những vết thương tích, rắc lên vết thương, dùng ngoài da còn chữa chốc lở, eczema, chảy nước.
Liều dùng: 4-8g (uống - hãm nước sôi).
Bài thuốc:
Bài số 1: Chữa đau cơ, nhức mỏi gân xương, ứ máu bầm tím:
Lá thông tươi băm nhỏ, ngâm với nước, dùng nước thuốc xoa bóp chỗ đau.
Bài số 2: Chữa ho:
Trái thông 10g
Lá hẹ 12g
Lá kinh giới 12g
Thái nhỏ sắc 400ml nước còn 1/3 chia uống 2 lần.
Bài số 3: Chữa đau nhức răng:
Dùng Tùng tiết (đốt mắt ở cành thông) thái nhỏ ngâm rượu càng đặc càng tốt, ngậm nghiêng phía răng đau một lúc rồi nhổ đi. Ngày 3 lần.
Bài số 4: Người già khó ngủ:
Tùng tử (nhân hạt thông)
Hạch đào nhục
Đại táo (Táo tàu)
Nấu chè ăn.
Bài số 5: Chữa đau nhức khớp sưng tấy:
Nhựa thông 40g
Nhựa cây sau sau 40g
Sáp ong 10g
Đun nhỏ lửa khoảng 10 phút; sau đó để nguội, phết lên giấy để dán lên chỗ sưng.
Bài số 6: Chống lạnh do thời tiết, do cơ thể có hàn:
Rang hạt Tùng tử ngâm rượu. Dùng cho phụ nữ sau sinh chân tay bải oải chóng mặt, hoa mắt, buồn nôn khi ngồi dậy. Hạt Tùng tử rang thơm nấu sôi với rượu để uống.
Bài số 7: Chữa cảm cúm đau mình:
Lá thông 10 - 30g
Nấu xông.
Bài số 8: Chữa đau đầu, choáng váng, chóng mặt:
Tùng hoàng (phấn hoa thông) 4-8 g
Sắc uống mỗi ngày.
Bài số 9: Trị mụn nhọt lở loét, chảy nước vàng:
Lấy phấn hoa thông rắc vào vết thương.
Bài số 10: Chữa ho lâu ngày, ít đờm:
Nhân hạt thông 30g
Hạnh đào 60g
Nghiền nát làm thành cao, trộn 15g mật. Mỗi lần 1 thìa uống với nước sôi để ấm; ngày 2 lần. Nếu dùng thường xuyên còn có tác dụng làm tinh thần sảng khoái, da tươi nhuận hồng hào.
Bài số 11: Chữa hoa mắt:
Nhân hạt thông 9g
Mè đen 9g
Câu kỷ tử 9g
Bông cúc trắng 9g
Sắc uống ngày 1 lần.
Bài số 12: Chữa băng huyết, nôn ra máu:
Tùng hương (phần còn lại sau khi cất nhựa thông lấy tinh dầu) đốt hứng lấy muội khói 10g
Da trâu đã đun chảy 20g
Hoà với nhau để uống.
Bài số 13: Chữa hen suyễn:
Tùng hương 200g
Tỏi 200g
Dầu mè 100g
Riềng 100g
Long não 4g
Nấu thành cao dán lên huyệt.
Bài số 14: Chữa táo bón:
Nhân hạt thông
Bá tử nhân
Hoả ma nhân
Lượng bằng nhau; nghiền bột làm viên; mỗi lần uống khoảng 6g trước bữa ăn.
Bài số 15: Chữa đau lưng gối, liệt dương:
Rễ thông thái lát nhỏ 640g
Cửu chưng cửu sái (9 chưng 9 phơi khô), ngâm 2 lít rượu bịt kín. Sau 7-10 ngày dùng được. Khi uống, nên làm nóng, uống vào bữa ăn mỗi lần 1-2 chén con (30ml).
Bài số 16: Chữa nhọt mủ:
Nhựa thông vừa đủ với bồ hóng bếp củi, gai bồ kết, trái bồ hòn (đốt thành than) lượng bằng nhau, đánh nhuyễn thành dẻo quánh mềm để đắp lên nhọt nung mủ.
Bài số 17: Chữa thận yếu, mờ mắt, nhuận da, thần kinh bất định, khó ngủ, hồi hộp lo âu:
Hạt thông 120g
Câu kỷ tử 120g
Kim anh tử 120g
Mạch môn đông 120g
sắc 3 nước dồn lại để cô thành cao với 150g mật hoặc cô đặc nước trên, trừ hạt thông nghiền nát để cho vào cùng mật, sau cô tiếp thành cao. Uống ngày 2 lần, mỗi lần 2 thìa con với nước ấm.
Bài số 18: Chữa vết thương lở loét:
Phấn hoa thông
Vỏ cây sung
Lượng bằng nhau, đốt thành than tán mịn rắc lên vết loét.
Bài số 19: Chữa ngứa:
Lá thông
Lá long não
Lá khế
Lá thanh hao
Lượng bằng nhau nấu nước để tắm rửa.
Bài số 20: Chữa phù toàn thân:
Phấn hoa thông
Vỏ cây vương tùng (Củ khỉ, Sơn hoàng bì, Hồng bì núi Clausena indica (Dalz) Otiv.)
Cành tía tô
Xác ve sầu nấu nước tắm.
Bài số 21: Giảm đau nhức, chữa tê thấp:
Lá thông 20g
Tất bát 12g - 20g
Dây đau xương 15g - 20g
Rễ Cỏ xước 15g - 20g
Rễ cây Xấu hổ 20g
Thổ phục linh 20g
Thiên niên kiện 10g - 12g
Sắc nước uống cùng các vị khác cùng công dụng.
Bài số 22: Món ăn trường xuân bất lão:
Nhân hạt thông 15g
(Hải tùng tử) loại thông 5 lá (rang kỹ)
Thịt gà ta (thái nhỏ) 100g
Thịt heo nạc (thái nhỏ) 100g
Trứng gà chiên chín 2 trái
Cà rốt thái mỏng 100g
Đậu Hà lan 100g
Gạo tẻ 200g
Xì dầu
Rượu vàng
Đường trắng
Mì chính vừa đủ
Xào thịt gà, thịt heo chín, cho cà rốt, đậu vào xào rồi cho nước, xì dầu, rượu, trứng đã chiên, hạt thông đun một lúc cho mỳ chính. Nấu cơm gần chín cho món thập cẩm trên vào. Nấu cơm chín ăn vào bữa chính trong ngày.
Bài số 23: Bổ toàn thân tăng sinh lực, ăn ngon ngủ yên, da dẻ tươi nhuận hồng hào: cao hạt thông – phục linh (còn gọi “thần tiên ngưng tuyết cao” là cao làm da trắng như tuyết vì làm đẹp da):
Nhân hạt thông 500g
Phục linh (nấm thông) 500g
Nghiền thành bột, trộn mật ong nấu thành cao. Mỗi lần uống 2 thìa to (15ml x 2) uống với một ít rượu ấm.
Bài số 24: Có tác dụng bổ dưỡng, trừ phong chữa đau đầu, chóng mặt:
Phấn hoa thông 4-8g
((tùng hoàng, tùng hoa phấn) bột mịn màu vàng nhạt, nhẹ dễ bay, không chìm trong nước vị béo ngọt nhạt không mùi, tính ấm)
Sắc uống mỗi ngày.
Bài số 25: Chữa cảm cúm đau mình:
Lá thông (tùng mao) 10 - 30g
Nấu xông.
Bài số 26: Nhức mỏi cơ xương khớp, va đập bầm tím:
Lá thông băm nhỏ ngâm rượu để xoa bóp.
Bài số 27: Chữa ngứa, lở, loét:
Lá thông, lá long não, lá khế, lá thanh hao lượng bằng nhau nấu nước để tắm rửa.
Bài số 28: Chữa đau nhức, chữa tê thấp:
Đốt mắt cành thông 20g
((Tùng tiết) cạo vỏ lấy lõi phơi khô, có vị đắng, tính ấm)
Sắc nước uống cùng các vị khác cùng công dụng.
Bài số 29: Chữa đau nhức răng:
Tùng tiết thái nhỏ ngâm rượu càng đặc càng tốt, ngậm nghiêng phía răng đau một lúc rồi nhổ đi. Ngày vài lần.
Bài số 30: Chữa vết thương lở loét:
Vỏ cây thông
Vỏ cây sung
Lượng bằng nhau, đốt thành than tán mịn rắc lên vết loét.
Bài số 31: Chữa nhọt mủ:
Nhựa thông (vừa đủ)
Bồ hóng bếp củi
Gai bồ kết
Trái bồ hòn (đốt thành than)
Lượng bằng nhau, đánh nhuyễn thành dẻo quánh mềm để đắp lên nhọt nung mủ.
Bài số 32: Chữa ho:
Nhựa thông lấy chất terpin làm thuốc ho.
Bài số 33: Chữa viêm đường tiết niệu:
Tinh dầu thông (phần bay lên qua cất kéo hơi nước của nhựa thông đã tinh chế). Dùng để chữa các bệnh ngoài da nhiễm khuẩn do tác dụng tiêu sưng, diệt khuẩn.
Bài số 34: Chữa đau nhức:
Tinh dầu thông phối hợp với cồn long não, salicylate methyl làm thuốc xoa bóp chữa đau nhức.
Bài số 35: Khu phong diệt khuẩn, sinh cơ, giảm đau, chữa mụn, nhọt, ghẻ lở: Tùng hương (phần còn lại sau khi cất nhựa thông lấy tinh dầu), có vị đắng ngọt, mùi thơm, tính ôn. Tùng hương dùng riêng hoặc phối hợp với nhiều vị khác như:
Hoàng liên
Hoàng cầm
Khổ sâm
Sà sàng tử
Đại hoàng
Khô phàn (Phèn phi)
Hoàng bá
Bạch chỉ
Đương quy
Cam thảo
Dầu mè
Sáp ong
để đắp lên loại mụn nhọt lâu ngày không khỏi.
Hoặc:
Nhóm thanh nhiệt (Hoàng liên, Hoàng cầm): Theo y học cổ truyền, có tác dụng được cho là ức chế vi khuẩn tại vùng mụn.
Nhóm sát trùng (Khổ sâm, Sà sàng tử, Tùng hương): Được sử dụng để làm sạch vùng lở loét..
Nhóm hỗ trợ (Đại hoàng, Khô phàn): Đại hoàng được cho là hỗ trợ lưu thông máu, trong khi Khô phàn giúp vết thương khô ráo.
Tùng hương 200g
Tỏi 200g
Dầu vừng 100g
Riềng 100g
Long não 4g
Nấu thành cao dán lên huyệt.
Bài số 37: Lợi thuỷ trừ thấp, ích tỳ trừ tả, trấn tĩnh, an thần; chữa mất ngủ, lo âu, hồi hộp, kinh sợ dẫn đến nhiều bệnh.
Nấm thông: Theo sách xưa đó là anh khí của cây thông kết thành khối. Có hai loại: Phục linh và Phục thần rất quen thuộc trong Đông y.
- Phục linh: Là nấm mọc trên rễ thông và phục thần là nấm mọc chung quanh rễ (rễ thông là lõi của nấm phục thần, có lương y gọi lõi này là tùng tiết?). Chúng đều là nấm thông nhưng đã thành 2 vị thuốc có tính năng công dụng khác nhau (tránh nhầm lẫn). Phục linh có 3 công dụng chính: lợi thủy trừ thấp, ích tỳ trừ tả, trấn tĩnh an thần.
Trong y học cổ truyền Trung Hoa cổ đại, Phục linh (Poria cocos) được mệnh danh là "tứ đại danh dược" nhờ tính chất trung hòa, có thể phối hợp trong khoảng 10% các bài thuốc lâm sàng.
Dưới đây là các bài thuốc kinh điển ứng dụng ba nhóm tác dụng chính của Phục linh:
1. Lợi thủy trừ thấp (Trị phù thũng, tiểu khó):
Phục linh có khả năng thẩm thấp mà không làm tổn thương chính khí.
Ngũ linh tán: Gồm Phục linh, Trạch tả, Trư linh, Bạch truật và Quế chi. Đây là bài thuốc nổi tiếng dùng để chữa chứng tiểu tiện khó, thủy thũng (phù nề) và các bệnh do thủy thấp đình trệ.
Bạch linh thang:
Phục linh 12g
Úc lý nhân 10g
Trạch tả 10g
để trị phù nề, bí tiểu.
2. Ích tỳ trừ tả (Trị tiêu chảy, kiện tỳ vị):
Khi tỳ hư không vận hóa được thủy thấp dẫn đến tiêu chảy, Phục linh đóng vai trò vừa làm mạnh tỳ vừa rút thấp ra ngoài.
Tứ quân tử thang: Gồm Phục linh, Nhân sâm, Bạch truật, Cam thảo. Đây là bài thuốc nền tảng để kiện tỳ vị, dùng cho người ăn uống kém, mệt mỏi, tiêu chảy mạn tính do tỳ hư.
Trong y học cổ truyền Trung Hoa cổ đại, Tứ Quân Tử Thang (四君子湯 Sìjūnzǐ tāng) được coi là bài thuốc "tổ" của các bài thuốc kiện tỳ ích khí. Tên gọi "Tứ Quân Tử" ngụ ý các vị thuốc trong bài đều có tính chất ôn hòa, không độc, hỗ trợ nhau một cách mẫu mực như những người quân tử.
Dưới đây là thành phần và liều lượng chi tiết của bài thuốc theo các tài liệu y văn kinh điển:
Thành phần chính (Tỉ lệ chuẩn):
Bài thuốc bao gồm 4 vị chính với liều lượng thường dùng là:
Nhân sâm 10g – 12g (Quân thuốc: Chủ trị bổ khí, kiện tỳ, dưỡng vị).
Bạch truật 9g – 12g (Thần thuốc: Kiện tỳ, táo thấp, giúp vận hóa thức ăn).
Phục linh 9g – 12g (Tá thuốc: Thẩm thấp, lợi thủy, giúp tỳ không bị thấp trệ, đồng thời hỗ trợ an thần).
Chích thảo 3g – 6g (Sứ thuốc: Điều hòa các vị thuốc, bổ trung ích khí).
Cách bào chế và sử dụng xưa:
Dạng bột (Tán): Trong sách Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương (đời Tống), các vị trên được tán thành bột mịn. Mỗi lần dùng 6g - 9g bột nấu với nước sắc thêm Gừng tươi (Sinh khương) và Đại táo để tăng hiệu quả ấm tỳ và điều hòa vị giác.
Dạng sắc: Ngày nay phổ biến hơn là cho tất cả các vị vào ấm, đổ nước vừa đủ, sắc lấy nước uống ngày 2-3 lần.
Công dụng nghiên cứu:
Bài thuốc này tập trung vào việc phục hồi hệ thống tiêu hóa (Tỳ vị):
Bổ khí: Cải thiện tình trạng mệt mỏi, đoản hơi, sắc mặt nhợt nhạt.
Kiện tỳ: Giúp ăn ngon miệng, tiêu hóa tốt, trị các chứng đầy bụng, phân lỏng do tỳ hư.
Các biến thể phổ biến từ Tứ Quân Tử Thang:
Từ bài thuốc gốc này, người xưa đã phát triển thêm nhiều bài thuốc nổi tiếng khác:
- Dị công tán: Tứ quân tử thang + Trần bì (dùng cho trẻ em tiêu hóa kém, đầy hơi).
- Lục quân tử thang: Tứ quân tử thang + Trần bì, Bán hạ (dùng khi tỳ hư có kèm theo đờm thấp, ho).
- Hương sa lục quân tử thang: Lục quân tử thang + Mộc hương, Sa nhân (dùng khi tiêu hóa kém kèm đau bụng, đầy chướng mạnh).
Lưu ý: Bài thuốc này tính ôn, nên người đang có triệu chứng nhiệt (người nóng, khát nước, táo bón nặng) hoặc âm hư hỏa vượng cần thận trọng hoặc gia giảm theo chỉ định của thầy thuốc.
Sâm linh bạch truật tán: Phối hợp Phục linh cùng Nhân sâm, Hoài sơn, Liên nhục... để trị tiêu chảy dai dẳng do tỳ vị suy yếu.
Trong y học cổ truyền Trung Hoa, bài thuốc Sâm Linh Bạch Truật Tán (参苓白术散 Cān líng báizhú sàn) có xuất xứ từ sách Thái Bình Huệ Dân Hòa Tễ Cục Phương (đời Tống). Đây là bài thuốc kinh điển dùng để kiện tỳ, ích khí, thẩm thấp và chỉ tả (cầm tiêu chảy).
Bài thuốc này được phát triển dựa trên nền tảng của bài Tứ Quân Tử Thang, bổ sung thêm các vị thuốc giúp thẩm thấp và làm mạnh phổi (phế).
Thành phần và liều lượng (Tỉ lệ chuẩn theo cổ phương):
Các vị thuốc thường được sử dụng với liều lượng tương đương nhau (theo tỉ lệ tán bột mịn):
Nhân sâm (hoặc Đảng sâm) 1.000g (Bổ khí, kiện tỳ)
Phục linh 1.000g (Thẩm thấp, kiện tỳ)
Bạch truật 1.000g (Kiện tỳ, táo thấp)
Hoài sơn (Củ mài) 1.000g (Bổ tỳ, ích thận)
Bạch biển đậu (Đậu ván trắng) 750g (Kiện tỳ, hóa thấp).
Liên nhục (Hạt sen - bỏ tim) 500g (Dưỡng tâm, kiện tỳ, chỉ tả).
Ý dĩ (Hạt bo bo) 500g (Lợi thấp, kiện tỳ).
Sa nhân 500g (Ấm vị, hành khí, giúp tiêu hóa)
Cát cánh 500g (Dẫn thuốc lên phía trên phổi, hỗ trợ phế khí).
Chích thảo 1.000g (Điều hòa các vị thuốc).
Cách dùng theo y văn cổ:
Dạng bột (Tán): Tất cả các vị thuốc trên được sấy khô, tán thành bột thật mịn và trộn đều.
Liều dùng: Mỗi lần uống 6g - 12g bột.
Cách uống: Thường uống với nước sắc đại táo (táo tàu) hoặc nước ấm. Ngày uống 2-3 lần.
Dạng sắc (Thang): Ngày nay, bài thuốc này cũng có thể dùng dưới dạng thuốc thang (sắc uống). Liều lượng mỗi vị sẽ được bác sĩ gia giảm tùy theo thể trạng (thường dao động từ 8g - 12g cho mỗi vị chính).
Công dụng và Chủ trị:
Công dụng: Kiện tỳ bồi bổ khí, thẩm thấp chỉ tả.
Chủ trị:
Người có tỳ vị hư nhược: Ăn uống kém, gầy yếu, mệt mỏi.
Tiêu hóa kém: Đi ngoài phân lỏng, tiêu chảy mạn tính.
Sắc mặt nhợt nhạt, chân tay vô lực.
Trong y học cổ truyền, bài thuốc này còn thực hiện nguyên tắc "Bồi thổ sinh kim" (làm mạnh tỳ để hỗ trợ phổi), giúp hỗ trợ các trường hợp ho lâu ngày do phế tỳ lưỡng hư.
Lưu ý khi nghiên cứu:
- Chống chỉ định: Không nên dùng cho người đang bị sốt cao, âm hư hỏa vượng (người nóng trong, khát nước, táo bón) hoặc các trường hợp thấp nhiệt cấp tính .
- Cát cánh: Sự xuất hiện của Cát cánh trong bài thuốc kiện tỳ là điểm đặc biệt, giúp dẫn khí lên trên phổi, hỗ trợ thông điều thủy đạo.
3. Trấn tĩnh an thần (Trị mất ngủ, hồi hộp):
Phần lõi nấm Phục linh mọc quanh rễ thông (gọi là Phục thần) có tác dụng dưỡng tâm, an thần mạnh nhất.
Quy tỳ thang: Kết hợp Phục thần, Toan táo nhân, Viễn chí, Long nhãn... dùng cho người mất ngủ, lo âu, trí nhớ kém do tâm tỳ lưỡng hư.
Bài thuốc Quy tỳ thang (xuất xứ từ sách Tế sinh phương) là một phương thuốc kinh điển trong Đông y, chuyên trị chứng "Tâm tỳ lưỡng hư" (cả tâm và tỳ đều suy yếu).
Thành phần bài thuốc chuẩn (Cổ phương):
Một thang thuốc Quy tỳ thang điển hình thường bao gồm các vị sau:
Nhân sâm (hoặc Đảng sâm) 12g Đại bổ nguyên khí, kiện tỳ dưỡng tâm.
Bạch truật 12g Kiện tỳ, táo thấp.
Phục linh (hoặc Phục thần) 12g Kiện tỳ, an thần.
Hoàng kỳ (nướng mật) 12g Bổ khí, thăng dương.
Đương quy 12g Bổ huyết, hoạt huyết.
Long nhãn 12g Bổ tâm tỳ, dưỡng huyết an thần.
Toan táo nhân (sao) 12g Dưỡng can, ninh tâm, an thần.
Viễn chí 4 - 8g Thông tâm khí, an thần, ích trí
Mộc hương 4 - 6g Lý khí, tỉnh tỳ (giúp thuốc bổ không gây trệ bụng).
Cam thảo (chích) 4g Bổ khí, điều hòa các vị thuốc.
Đại táo 3 trái Bổ tỳ, điều hòa khí huyết.
Sinh khương 3 lát Ấm tỳ vị, hỗ trợ tiêu hóa.
Công dụng chính:
- Kiện tỳ ích khí: Làm mạnh hệ tiêu hóa, tăng cường sinh lực.
- Bổ huyết dưỡng tâm: Nuôi dưỡng máu, giúp tim khỏe, tinh thần thư thái.
Chủ trị: Các chứng mất ngủ, hay quên, hồi hộp, ăn uống kém, mệt mỏi, người xanh xao, hoặc các chứng xuất huyết (rong kinh, đi ngoài ra máu) do tỳ hư không thống quản được huyết.
Lưu ý khi sử dụng:
- Gia giảm: Nếu huyết hư nhiều, có thể gia thêm Thục địa (gọi là Hắc Quy tỳ).
- Chống chỉ định: Người có thực nhiệt (đang sốt cao), âm hư hỏa vượng (người nóng trong, lòng bàn tay chân nóng) nên thận trọng hoặc hỏi ý kiến thầy thuốc trước khi dùng.
Định chí hoàn: Phối hợp Phục thần, Nhân sâm, Viễn chí, Thạch xương bồ để định tâm, an thần, trị chứng hồi hộp và tinh thần bất định.
Bài thuốc Định chí hoàn (hay còn gọi là An thần định chí hoàn 安神定志丸 Ānshén dìng zhì wán) có một số phiên bản khác nhau tùy theo nguồn gốc y văn. Dưới đây là hai thành phần phổ biến nhất:
Thành phần theo "Bị cấp thiên kim yếu phương" (Tôn Tư Mạo):
Đây là công thức kinh điển để định tâm, an thần, trị chứng hồi hộp và lo sợ:
Bá tử nhân 120g
Bạch phục linh 120g
Bạch phục thần 120g
Đương quy (quy thân) 160g
Nhân sâm 120g
Thục địa: (Lượng thay đổi tùy chỉnh)
Thành phần theo "Y học tâm ngộ" (Trình Chung Linh):
Phiên bản này thường được gọi là An thần định chí hoàn, chuyên trị mất ngủ do lo lắng, ngủ không yên hoặc tâm đởm khí hư:
Phục linh 40g (Kiện tỳ, thẩm thấp, an thần)
Phục thần 40g (Dưỡng tâm an thần)
Nhân sâm 40g (Đại bổ nguyên khí)
Viễn chí 40g (An thần, ích trí, thông tâm khí)
Thạch xương bồ 20g (Khai khiếu, ninh thần)
Long xỉ 20g (Trấn kinh an thần)
Công dụng và Chủ trị:
- Công dụng: Trấn tĩnh tâm thần, dưỡng huyết ích khí, kiện tỳ.
- Chủ trị: Các chứng tâm thần bất định, hay sợ hãi, hồi hộp, mất ngủ kinh niên, hay quên, hoặc tinh thần hoảng hốt do tâm đởm khí hư.
- Cách dùng: Tán các vị thuốc thành bột mịn, luyện với mật làm hoàn. Mỗi lần uống khoảng 8 - 12g với nước ấm hoặc nước sắc sinh khương (gừng tươi).
Lưu ý: Không dùng bài thuốc này nếu đang dùng vị thuốc Lê lô vì Nhân sâm phản Lê lô. Bạn nên tham khảo ý kiến thầy thuốc trước khi áp dụng.
Lưu ý: Tác dụng của Phục linh rất dịu nhẹ nên thường được dùng lâu dài hoặc phối hợp với nhiều vị khác để tăng hiệu quả điều trị.
- Phục thần: Dùng để an thần chữa mất ngủ, lo âu, hồi hộp, kinh sợ dẫn đến nhiều bệnh.
Trong y học cổ truyền Trung Hoa xưa, Phục thần (phần nấm phục linh mọc quanh rễ thông) được coi là vị thuốc quý chuyên trị chứng mất ngủ, lo âu, tâm thần bất định do có tác dụng "an thần, định chí" mạnh hơn phục linh thông thường.
Cách "nấu chè" hay dùng Phục thần phổ biến trong cổ tích và y văn thường được thực hiện theo các cách sau:
Phục thần hầm cháo (Hoặc canh ngọt):
Đây là cách dùng gần giống với khái niệm "chè" thuốc trong dân gian:
Nguyên liệu:
Phục thần 15g
Viễn chí 12g
Gạo tẻ 100g
Có thể thêm hạt sen hoặc long nhãn để tăng vị ngọt tự nhiên và hiệu quả an thần.
Cách nấu:
Rửa sạch Phục thần và Viễn chí, sắc kỹ với nước để lấy nước cốt, sau đó bỏ bã.
Dùng nước thuốc này để nấu cháo cùng với gạo tẻ đã vo sạch.
Nấu cho đến khi gạo nhừ, có thể ăn ấm vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Bài thuốc "Định chí hoàn" (Tán bột uống ấm):
Trong y học cổ truyền Trung Quốc xưa, thay vì nấu dạng chè lỏng, người ta thường dùng bài Định chí hoàn để trị suy nhược thần kinh gây mất ngủ:
Thành phần:
Phục thần 30g
Nhân sâm/Đảng sâm 30g
Viễn chí 20g
Cách dùng: Các vị thuốc được sấy khô, tán thành bột mịn. Mỗi ngày lấy một lượng bột thuốc hòa với nước ấm (giống như uống một loại trà/chè bột) để uống sau bữa ăn.
Phối hợp trong các bài thuốc kinh điển (Sắc uống):
Phục thần thường là thành phần không thể thiếu trong các bài thuốc sắc chữa mất ngủ nổi tiếng như:
Quy tỳ thang: Dùng cho người mất ngủ do tâm tỳ hư suy, khí huyết kém. Phối hợp Phục thần 12g với Long nhãn, Toan táo nhân, Đương quy, Viễn chí... sắc lấy nước uống 3 lần trong ngày.
Quy tỳ thang: Kết hợp Phục thần, Toan táo nhân, Viễn chí, Long nhãn... dùng cho người mất ngủ, lo âu, trí nhớ kém do tâm tỳ lưỡng hư.
Bài thuốc Quy tỳ thang (xuất xứ từ sách Tế sinh phương) là một phương thuốc kinh điển trong Đông y, chuyên trị chứng "Tâm tỳ lưỡng hư" (cả tâm và tỳ đều suy yếu).
Thành phần bài thuốc chuẩn (Cổ phương):
Một thang thuốc Quy tỳ thang điển hình thường bao gồm các vị sau:
Nhân sâm (hoặc Đảng sâm) 12g Đại bổ nguyên khí, kiện tỳ dưỡng tâm.
Bạch truật 12g Kiện tỳ, táo thấp.
Phục linh (hoặc Phục thần) 12g Kiện tỳ, an thần.
Hoàng kỳ (nướng mật) 12g Bổ khí, thăng dương.
Đương quy 12g Bổ huyết, hoạt huyết.
Long nhãn 12g Bổ tâm tỳ, dưỡng huyết an thần.
Toan táo nhân (sao) 12g Dưỡng can, ninh tâm, an thần.
Viễn chí 4 - 8g Thông tâm khí, an thần, ích trí
Mộc hương 4 - 6g Lý khí, tỉnh tỳ (giúp thuốc bổ không gây trệ bụng).
Cam thảo (chích) 4g Bổ khí, điều hòa các vị thuốc.
Đại táo 3 trái Bổ tỳ, điều hòa khí huyết.
Sinh khương 3 lát Ấm tỳ vị, hỗ trợ tiêu hóa.
Công dụng chính:
- Kiện tỳ ích khí: Làm mạnh hệ tiêu hóa, tăng cường sinh lực.
- Bổ huyết dưỡng tâm: Nuôi dưỡng máu, giúp tim khỏe, tinh thần thư thái.
Chủ trị: Các chứng mất ngủ, hay quên, hồi hộp, ăn uống kém, mệt mỏi, người xanh xao, hoặc các chứng xuất huyết (rong kinh, đi ngoài ra máu) do tỳ hư không thống quản được huyết.
Lưu ý khi sử dụng:
- Gia giảm: Nếu huyết hư nhiều, có thể gia thêm Thục địa (gọi là Hắc Quy tỳ).
- Chống chỉ định: Người có thực nhiệt (đang sốt cao), âm hư hỏa vượng (người nóng trong, lòng bàn tay chân nóng) nên thận trọng hoặc hỏi ý kiến thầy thuốc trước khi dùng.
Ôn đởm thang:
Dùng Phục linh hoặc Phục thần 12g để hỗ trợ điều hòa tỳ vị, hóa đờm, giúp ngủ ngo
Lưu ý:
- Cây thông, một loại dược liệu thiên nhiên, được biết đến với nhiều công dụng chữa bệnh hữu ích. Tuy nhiên, việc sử dụng cây thông không hề đơn giản. Đặc biệt, trong cây thông có chứa một lượng nhỏ chất nicotin, chất này, khi được tiêu thụ ở mức độ cao hoặc nếu lạm dụng kéo dài, có thể gây hại nghiêm trọng cho sức khỏe. Cụ thể, nó có thể làm tổn thương chức năng gan và dẫn tới tình trạng nôn ói, điều mà không ai mong muốn.
Để đảm bảo sự an toàn và hiệu quả khi sử dụng cây thông trong việc điều trị bệnh, bệnh nhân cần phải chú ý kiêng các chất kích thích khác. Điều này không chỉ giúp tăng cường tác dụng của cây thông mà còn giảm thiểu nguy cơ phát sinh những tác dụng phụ không mong muốn.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể sử dụng cây thông. Một số đối tượng dưới đây tuyệt đối không nên tiếp cận loại dược liệu này:
Người mắc bệnh ung thư phổi nặng: Hệ miễn dịch của họ đang bị suy yếu nghiêm trọng, việc sử dụng cây thông có thể làm tình trạng bệnh trở nên xấu hơn.
Người mắc bệnh viêm gan giai đoạn đầu: Cây thông có thể gây áp lực lên gan, làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh.
Phụ nữ đang mang thai và trong thời kỳ cho con bú: Sức khỏe của cả mẹ và bé là ưu tiên hàng đầu, việc sử dụng không đúng cách có thể gây ra những rủi ro nghiêm trọng.
Cây thông còn cung cấp nhiều thứ dùng trong Y Dược.
- Lá: Chứa tinh dầu, sắc uống, xông chữa cảm cúm, đau nhức. Liều dùng 10-30g.
- Nhựa thông, còn gọi là tùng hương (Resina Pinii) dùng để chế colophan và tinh dầu thông. Trong tinh dầu thông có các chất d-α-pinen, phenol, camphen, sesquiterpen v.v...
Tùng hương chủ yếu dùng để nấu, chế cao dán nhọt.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét