MỖI NGÀY MỘT LÁ CÂY - TRICHOSANTHES SP. (QUA LÂU)
QUA LÂU 栝楼 Guā Rō
Tên khoa học: Trichosanthes sp. họ Bầu bí (Cucurbitaceae).
Tên khác: Thao ca (Cao Bằng) - Cây dưa dầy - Cây dưa trời - Concombre de Chine (Pháp) - Snake gourd Anh).






Bộ phận dùng:
1. Rễ cây Qua lâu (Radix Trichosanthis) phơi khô gọi là Qua lâu căn - Thiên hoa phấn (TQ) 天花粉 Tiānhuāfěn - Củ dưa dày. Đã được ghi vào DĐVN (1983) và DĐTQ (1997).
2. Vỏ trái Qua lâu (Pericarpium Trichosanthis) phơi khô gọi là Qua lâu bì (TQ), vỏ dưa dày. Đã được ghi vào DĐVN (1983) và DĐTQ (1997).
3. Hạt Qua lâu (Semen Trichosanthis) phơi khô gọi là Qua lâu nhân (TQ), hạt dưa dày. Đã được ghi vào DĐVN (1983) và DĐTQ (1997).
Mô tả: Cây Qua lâu là một dây leo, sống lâu năm, dài hàng chục mét, phân nhánh. Thân có những rãnh dọc nông, gốc xù xì. Lá mọc so le, phiến lá xẻ thành 5-7 thùy, tựa lá cây bầu ngô (cây Trichosanthes multiloba Miq thì phiến lá xẻ thành nhiều thùy và sâu hơn cây Trichosanthes Kirilowii Maxim) cả hai cay đều dùng làm thuốc và được ghi vào Dược điển Việt Nam (1983), Dược điển Trung Quốc (1997) ghi 2 cây: T. Kirilowii Maxim và T. Rosthomii Harms).
Phiến lá rộng 8-20cm. Lá non 2 mặt có nhiều lông. Cuống lá dài, cong. Bông đơn tính, màu trắng, cuống ngắn, mọc ở kẽ lá. Mùa bông tháng 6-7. Trái hình trứng, to bằng trái dưa gang, dài 8-10cm, rộng 5-7cm, da trái màu xanh bóng có vằn trắng dọc theo trái, không có lông, khi chín màu đỏ da cam. Trái có rất nhiều hạt màu vàng hay màu nâu nahtj, hình trứng dẹt. Mùa trái tháng 7-9.
Cây qua lâu mọc nhiều ở Cao Bằng, Lạng Sơn. Miền Bắc nước ta còn có cây Qua lâu cao lớn: Trichosanthes bracteata (Lam) Voigt.
Qua lâu nhân
Qua lâu bì
QUA LÂU TRÁI - QUA LÂU BÌ
Bộ phận dùng:
- Qua lâu trái (Fructus Trichoranthis) là trái đã chín và đã chế biến khô của cây Qua lâu.
- Qua lâu bì (Pericarrpium Trichosanthis) là vỏ trái Qua lâu đã chín và đã chế biến khô.
Đã được ghi vào DĐVN (1997).
Thu hái chế biến:
- Qua lâu bì (vỏ trái Qua lâu): Vỏ thường chẻ thành hai hoặc nhiều mảnh, dài 6,5-11cm nhăn nheo không phẳng, hai mép uốn cong vào trong, một đầu có vệt cuống rụng. Chất xốp, giòn, mùi hơi tựa đường cháy, vị nhạt, hơi chua. Loại qua lâu bì da vỏ ngoài màu vàng đỏ, mặt trong màu trắng, bỏ dày, nguyên vẹn, không có tạp chất là tốt.
- Qua lâu trái: Hình trứng, dài 6,5-10cm, đường kính 6,5-8cm, vỏ ngoài màu vàng đỏ hay vàng mỡ, bóng, hoặc có nhiều nếp nhăn, có những đường gân hơi nổi lên, màu tương đối sẫm. Một đầu có cuống trái ngắn hoặc vết cuống trái, đầu kia tròn tày. Nặng nhẹ không đều, giòn dễ nứt vỡ. Mặt trong màu trắng vàng, có kèm sơ màu vàng đỏ, có khoảng rỗng và một cụm hạt dính thành múi, thường dính liền với vỏ trái. Mùi hơi tựa đường cháy, vị chua, ngọt.
Thành phần hóa học: Hiện nay chưa rõ hoạt chất của qua lâu bì.
Công dụng: Theo Đông y, qua lâu bì, vị ngọt, đắng, tính lạnh vào 3 kinh: Phế, Vị, Đại trường.
Có tác dụng nhuận phổi, nhuận tràng. Dùng chữa các chứng bệnh ho nóng có đờm, nôn ra máu, đau tức ngực, đau cuống họng, người háo khát, bí đại tiện, đau vú, thủy thũng, hoàng đản.
Liều dùng: 9-12g. Sắc uống.
Lưu ý: Người tỳ vị hư hàn, không thực nhiệt, không được dùng.
- Không được dùng phối hợp với ô đầu, thảo ô (tương phản).
Bài thuốc:
Bài số 1: Chữa viêm cổ họng, mất tiếng:
Qua lâu bì 10g
Bạch cương tàm 10g
Cam thảo 10g
Gừng tươi 4g
Nước 600ml
Sắc lấy 200ml, chia làm 2 lần uống trong ngày.
Bài số 2: Nhuận tràng, chữa táo bón:
Trái qua lâu 15g
Cam thảo 3g
Sắc uống. Lấy 30g Mật ong hòa với cháo loãng, cùng ăn và uống thuốc.
Bài số 3: Theo báo cáo: Trái qua lâu kết hợp với Sơn đậu ăn dùng để chữa ung thư phổi và ung thư cuống phổi.
Bảo quản: Để nơi râm mát, khô ráo, đề phòng ẩm ướt và sâu mọt.
QUA LÂU (Hạt)
Tên khoa học: Semen Trichosanthis.
Tên khác: Qua lâu tử (TQ) - Qua lâu nhân.
Bộ phận dùng: Qua lâu hạt, là hạt già của trái Qua lâu phơi khô.
Đã được ghi vào DĐVN (1983) và DĐTQ (1997).
Mô tả: Qua lâu hạt, hình bầu dục, dẹt, phẳng, dài 1-1,5cm, rộng 0,6-1cm. Mặt ngoài phẳng trơn, màu nâu tro, quanh mép có đường rìa, một đầu có một tễ là một nốt lõm xuống. Chất cứng chắc, trong chứa 2 mảnh nhân, màu trắng, có nhiều dầu, mặt ngoài nhân có màng bọc màu lục, ít mùi, vị ngọt, hơi đắng chát.
Loại qua lâu hạt, đều, béo mập, nhiều dầu.
Thủy phần dưới 10p100 là tốt.
Tỉ lệ thối, lép dưới 5p100.
Có 2 loại:
a) Loại nhỏ hạt, chiều dài dưới 2,5cm.
b) Loại hạt lớn, chiều dài trên 2,5cm.
Thành phần hóa học: Qua lâu hạt chứa chất dầu béo, (26p100) trong đó acid không no chiếm tới 66,5p100, acid béo no 30p100, còn có các chất khác hiện nay chưa rõ.
Công dụng: Theo Đông y, Qua lâu hạt vị ngọt, đắng, tính lạnh.
Có tác dụng tả hỏa, nhuận phổi, hạ khí, long đờm, nhuận tràng.
Dùng chữa các chứng bệnh ho có đờm, đờm đặc tức ngực, sốt nóng, đại tiện táo bón.
Liều dùng: 9-12g. Sắc uống. Có thể dùng sống hay sao lửa nhẹ hoặc khử dầu: Lấy qua lâu hạt sạch, bỏ vỏ, nghiền mịn, bọc bằng giấy hút dầu, sấy nóng nhẹ, nén ép cho chảy thấm dầu đi, rồi nghiền mịn, rây thì được qua lâu nhân sương.
Lưu ý: Người tỳ vị hư hàn không thực nhiệt không được dùng.
- Qua lâu hạt phản ô đầu, Thảo ô.
Bảo quản: Để nơi khô ráo, thoáng gió, tránh nóng.
QUA LÂU (Rễ)
Tên khoa học: Radix Trichosanthis.
Tên khác: Qua lâu căn (TQ) - Củ dưa dày - Thiên hoa phấn.
Bộ phận dùng: Thiên hoa phấn là rễ của cây Qua lâu phơi khô. Đã được ghi vào DĐVN (1983) và DĐTQ (1997).
Thu hái chế biến: Thu hái vào 2 mùa thu đông, sau khi thu hoạch hạt ít lâu - Đào lấy rễ, rửa sạch đất cát, cạo sạch vỏ ngoài, cắt thành đoạn nhỏ dài 10-23cm, rễ tương đối to, thì chẻ dọc đôi hay dọc tư, đem phơi khô rồi xông sinh cho trắng.
Nếu muốn lấy rễ làm thiên hoa phấn, phải cắt bỏ bông không cho kết quả, thì rễ sẽ mập hơn và nhiều bột hơn.
Thiên hoa phấn hình trụ tròn hay nửa trụ tròn không nhất định, phần nhiều uốn cong, một đầu tương đối nhỏ, dài 10-20cm, đường kish 3-6cm. Mặt ngoài màu trắng vàng hay xám nhạt, những chỗ vỏ thô ngoài chưa cạo sạch thì thành những chấm màu xám có vết nhánh rễ mọc tách ra và vân rãnh ngang tương đối sâu, chẻ dọc có những xơ gân màu vàng. Chất chắc đặc, khó bẻ gãy, mặt cắt ngang màu trắng có nhiều bột, có nhiều xơ màu vàng, hơi tỏa hình bánh xe. Không mùi, vị nhạt, sau hơi đắng.
Loại thiên hoa phấn màu trắng, nhiều bột, chất chắc mịn, mập, ít xơ là tốt (loại màu xám, nhiều xơ là kém).
Thủy phần dưới 11p100.
Tạp chất dưới 1p100.
Thiên hoa phấn trông bề ngoài có thể lẫn với Cát căn (Radix Puaerariae) là rễ cây Sắn dây, Pueraria thomsoni Benth, họ Cánh bướm (Papilionaceae). Cát căn thì nhẹ, mặt cắt ngang vàng, nhiều xơ, ít bột hơn, thành những khoanh tròn.
Thành phần hóa học: Rễ qua lâu có nhiều tinh bột, có chừng 1p100 saponosid, trichosanthin.
Công dụng: Theo Đông y, Thiên hoa phấn vị ngọt, chua, tính lạnh, vào 3 kinh Phế, Vị, Đại trường.
Có tác dụng tăng bài tiết tân dịch, khỏi khát, hạ sốt, khỏi táo bón, tiêu mủ, tiêu phù thũng. Dùng chữa các chứng bệnh sốt nóng, người háo khát, hoàn đảng, miệng khô, hơi thở ngắn, sưng vú, trĩ dò, mụn lở.
Theo Tây y, Thiên hoa phấn có tác dụng: giảm đường huyết, thúc đẻ (ocytocics), làm sẩy, phá thai (abortif) và kháng gien (antigenic) rất quan trọng. Hiện đang được thăm dò chữa HIV, AIDS, chữa tiểu đường.
Liều dùng: 9-12g.
Lưu ý: Người tỳ vị hư hàn không thực nhiệt không được dùng. Thiên hoa phấn phản ô đầu, thảo ô.
Bài thuốc: Chữa cảm mạo, thân thể cứng, không quay cổ được, mạch trầm:
Thiên hoa phấn 7g
Thược dược 7g
Sinh khương 7g
Quế chi tiêm 7g
Đại táo 7g
Cam thảo 5g
Sắc uống.
Bảo quản: Rất dễ mốc mọt, cần để nơi khô ráo, thoáng gió, kín.
Chú thích:
Quế chi tiêm là cành quế nhỏ vót ở đầu ngọn, có kích thước nhỏ hơn quế chi. Về mặt dược liệu, nó được sử dụng để làm ấm cơ thể, giải cảm phong hàn, giảm đau nhức xương khớp và các vấn đề liên quan đến khí huyết lưu thông kém.
Đặc điểm:
Hình dáng: Trụ tròn, dài khoảng 30-75cm, đường kính 0,3-1cm, phân nhiều nhánh.
Bề mặt: Màu nâu đỏ hoặc nâu, có sọc và nếp nhăn nhỏ, còn có sẹo cành, sẹo mầm.
Chất liệu: Cứng nhưng giòn, dễ bẻ gãy.
Mặt cắt: Vỏ có màu nâu, phần gỗ có màu trắng vàng đến nâu vàng nhạt, phần tủy có hình vuông.
Công dụng:
Tán hàn, giải cảm: Giúp làm ấm cơ thể, chữa cảm lạnh, nhức đầu.
Thông kinh mạch: Làm giảm đau nhức xương khớp, đau bụng kinh.
Hỗ trợ tiêu hóa: Giúp tăng tiết mồ hôi, giảm đầy bụng, khó tiêu.
Chống oxy hóa: Flavonoid trong quế chi giúp bảo vệ tế bào khỏi tổn thương.
Cải thiện chuyển hóa: Polyphenol trong quế chi có thể giúp giảm đường và chất béo trong máu.
Phân biệt:
Quế chi tiêm: Cành nhỏ vót nhọn ở đầu ngọn.
Quế chi: Cành nhỏ, vừa.
Quế thông: Vỏ quế thông thường, chưa gọt vỏ ngoài.
Quế tâm: Lớp vỏ trong sau khi gọt bỏ lớp vỏ thô.
Nhục quế: Vỏ quế bóc từ thân hoặc cành to, dày.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét